Đường Hồ Chí Minh dự kiến nối thông cuối năm 2026, hai đoạn ở miền Tây lùi khai thác sang năm 2027Đường Hồ Chí Minh dự kiến nối thông cuối năm 2026, hai đoạn ở miền Tây lùi khai thác sang năm 2027

Dự án đường Hồ Chí Minh đang tiến tới giai đoạn hoàn thành mục tiêu nối thông toàn tuyến từ Pác Bó, tỉnh Cao Bằng, đến Đất Mũi, tỉnh Cà Mau. Theo Tờ trình do Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày thay mặt Thủ tướng Chính phủ, tuyến đường dự kiến cơ bản nối thông vào hết năm 2026, với quy mô tối thiểu hai làn xe.

Đường Hồ Chí Minh có tổng chiều dài 3.183 km, gồm tuyến chính dài 2.499 km và nhánh phía Tây dài 684 km. Quy mô tuyến từ 2 đến 6 làn xe, tùy từng đoạn. Dự án được triển khai nhằm hình thành trục giao thông quan trọng ở phía Tây đất nước, tăng cường liên kết Bắc – Trung – Nam, khai thác tiềm năng kinh tế các khu vực dọc tuyến và giảm tải cho Quốc lộ 1.

Ngoài mục tiêu giao thông, tuyến đường còn có ý nghĩa đối với phát triển kinh tế – xã hội tại các địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực biên giới. Việc tăng khả năng kết nối với các cửa khẩu cũng được kỳ vọng hỗ trợ giao thương với các nước láng giềng, đồng thời góp phần củng cố quốc phòng, an ninh.

Theo báo cáo của Chính phủ, đến năm 2020, dự án đã hoàn thành 2.465 km đường theo mục tiêu nối thông với quy mô từ hai làn xe. Trong giai đoạn 2021–2026, kế hoạch tiếp tục đầu tư khoảng 191,5 km để hoàn thiện kết nối toàn tuyến.

Bên cạnh các đoạn đường quy mô thông thường, Chính phủ đã triển khai đầu tư hơn 770 km đường cao tốc liên quan đến định hướng phát triển tuyến. Trong đó, khoảng 482 km đi trùng cao tốc Bắc – Nam phía Đông, từ Diễn Châu, Nghệ An, đến Túy Loan, Đà Nẵng; khoảng 295 km thuộc cao tốc Bắc – Nam phía Tây và các tuyến cao tốc khác tại những vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Tây Nguyên.

Các tuyến nhánh kết nối cửa khẩu như Sóc Giang, Lao Bảo và Bờ Y cũng được đầu tư nhằm tăng khả năng lưu thông hàng hóa, liên kết vùng và giao thương quốc tế.

Hai đoạn ở miền Tây dự kiến khai thác vào quý I/2027

Dù mục tiêu cơ bản nối thông đường Hồ Chí Minh vào cuối năm 2026 vẫn được đặt ra, tiến độ của một số đoạn thành phần đang là vấn đề cần theo dõi. Đáng chú ý, đoạn Rạch Sỏi – Bến Nhất và đoạn Gò Quao – Vĩnh Thuận được thống nhất lùi thời gian đưa vào khai thác sang quý I/2027.

Theo báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, dự án đường Hồ Chí Minh đã chậm khoảng sáu năm so với mục tiêu nối thông năm 2020 được đặt ra tại Nghị quyết số 66/2013/QH13. Tiến độ sau đó phải điều chỉnh thông qua các nghị quyết liên quan. Vì vậy, mốc hoàn thành cuối năm 2026 hiện vẫn là mục tiêu dự kiến, không phải kết quả đã hoàn tất.

Riêng hai đoạn Rạch Sỏi – Bến Nhất và Gò Quao – Vĩnh Thuận có tổng mức đầu tư khoảng 4.145 tỷ đồng. Báo cáo thẩm tra nêu sản lượng thi công chưa thống nhất giữa các tài liệu, lần lượt được thể hiện ở các mức khoảng 73%, trên 70% và 75%.

Đáng lưu ý, còn khoảng 15,06 km trong tổng chiều dài 51,94 km đang thực hiện gia tải nền đất yếu. Đây là khâu kỹ thuật cần kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm nền đường đạt độ cố kết theo thiết kế trước khi chuyển sang các bước tiếp theo.

Cơ quan thẩm tra nhấn mạnh không được vì áp lực tiến độ mà dỡ tải sớm khi nền đất chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Điều này cho thấy việc hoàn thành công trình không chỉ phụ thuộc vào tiến độ thi công mà còn phải bảo đảm chất lượng và an toàn khai thác lâu dài.

Những hạn chế về giải phóng mặt bằng, chi phí và quản lý dự án

Bên cạnh kết quả đạt được, quá trình triển khai đường Hồ Chí Minh còn tồn tại nhiều vấn đề từ khâu chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng đến thi công và khai thác.

Theo Bộ trưởng Trần Hồng Minh, một số dự án thành phần phải điều chỉnh tiến độ, quy mô hoặc tổng mức đầu tư do công tác dự báo và quản trị rủi ro chưa đáp ứng yêu cầu. Biến động giá vật liệu và thị trường cũng tạo thêm áp lực đối với kế hoạch thi công.

Ở một số dự án, công tác khảo sát và lập dự án chưa đầy đủ, giải pháp thiết kế chưa tối ưu nên phải điều chỉnh, bổ sung trong quá trình triển khai. Những thay đổi này có thể kéo dài thời gian thực hiện và làm phát sinh chi phí.

Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bàn giao mặt bằng tại một số địa phương cũng chưa đáp ứng tiến độ. Khi mặt bằng được bàn giao chậm, nhà thầu khó tổ chức thi công liên tục, ảnh hưởng đến kế hoạch hoàn thành toàn dự án.

Báo cáo thẩm tra còn chỉ ra hạn chế trong việc lượng hóa chi phí phát sinh do chậm tiến độ, xác định trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị và cập nhật số liệu giữa các tài liệu. Vì vậy, cơ quan soạn thảo được đề nghị rà soát, thống nhất các con số về tổng mức đầu tư, tiến độ, giải ngân và quyết toán của từng dự án thành phần.

Đối với nguồn vốn, hồ sơ nêu tổng mức đầu tư nối thông toàn tuyến là 129.075 tỷ đồng. Trong đó, 91.391 tỷ đồng thuộc các dự án đã và đang đầu tư, với số vốn đã bố trí là 83.920 tỷ đồng; phần chênh lệch 7.471 tỷ đồng cần làm rõ nhu cầu quyết toán. Khoảng 37.684 tỷ đồng là vốn sơ bộ cho đoạn Cổ Tiết – Chợ Bến chưa đầu tư.

Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị làm rõ các số liệu vốn còn chênh lệch trong hồ sơ, bao gồm số liệu liên quan đến dự án BT La Sơn – Hòa Liên và vốn bố trí cho một số dự án khởi công trong giai đoạn 2023–2024. Việc chuẩn hóa dữ liệu là cơ sở quan trọng để đánh giá chính xác nhu cầu vốn còn lại và xử lý trách nhiệm trong quá trình thực hiện.

Đề xuất quyết toán dự án vào cuối năm 2027

Trên cơ sở tổng kết quá trình thực hiện các nghị quyết liên quan, Chính phủ kiến nghị Quốc hội xem xét ban hành nghị quyết kết thúc việc thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết số 38/2004/QH11 và Nghị quyết số 66/2013/QH13 về chủ trương đầu tư xây dựng đường Hồ Chí Minh.

Theo đề xuất, Chính phủ sẽ khẩn trương hoàn tất thủ tục quyết toán các dự án thành phần đã đưa vào khai thác. Toàn bộ công tác quyết toán dự kiến phải hoàn thành chậm nhất vào hết năm 2027, qua đó chính thức kết thúc dự án đường Hồ Chí Minh với quy mô hai làn xe theo mục tiêu của giai đoạn hiện tại.

Việc kết thúc giai đoạn nối thông không có nghĩa toàn bộ tuyến đường sẽ dừng được đầu tư nâng cấp. Các đoạn tuyến tiếp theo vẫn cần được rà soát theo quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, phù hợp với nhu cầu vận tải, khả năng cân đối nguồn lực và hiệu quả đầu tư.

Trong đó, đoạn Cổ Tiết – Yên Bái được đề nghị rà soát, cân đối và sớm bố trí nguồn vốn để triển khai. Cơ quan thẩm tra cũng yêu cầu hoàn thiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư đối với đoạn Cổ Tiết – Yên Bái theo quy định của Luật Đầu tư công, gắn với kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026–2030.

Ngoài ra, Chính phủ được đề nghị phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và nhà đầu tư để tháo gỡ vướng mắc tại một số dự án BOT giao thông, bao gồm các dự án trên đường Hồ Chí Minh. Việc xử lý cần bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp dự án và người dân.

Vai trò của đường Hồ Chí Minh đối với liên kết vùng

Sau hơn 20 năm triển khai, đường Hồ Chí Minh được đánh giá là một trục giao thông quan trọng ở phía Tây đất nước, góp phần phá thế độc đạo và hình thành tuyến giao thông xuyên Việt thứ hai bên cạnh Quốc lộ 1.

Tuyến đường kết nối nhiều địa bàn miền núi, khu vực biên giới và vùng kinh tế, đồng thời gắn với tám làng thanh niên lập nghiệp. Các kết nối với cửa khẩu quốc tế như Sóc Giang, Lao Bảo, Bờ Y và Hoa Lư có ý nghĩa trong việc tăng cường giao thương với Lào, Campuchia và các thị trường lân cận.

Đối với các địa phương nằm dọc tuyến, hạ tầng giao thông tốt hơn có thể hỗ trợ lưu thông hàng hóa, tiếp cận dịch vụ và thu hút đầu tư. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào chất lượng kết nối với đường địa phương, năng lực logistics, quy hoạch sử dụng đất và khả năng huy động nguồn lực phát triển kinh tế.

Việc hoàn thành nối thông tuyến tối thiểu hai làn xe cũng được đặt trong bối cảnh mục tiêu quốc gia hoàn thành 5.000 km đường bộ cao tốc vào năm 2030. Giai đoạn tiếp theo sẽ cần ưu tiên đầu tư theo nhu cầu thực tế, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn và tránh tạo áp lực lên ngân sách.

Nguồn tham khảo: Nội dung Tờ trình của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường được cung cấp trong tài liệu nguồn. Các mốc tiến độ nêu trên là kế hoạch hoặc kiến nghị tại thời điểm báo cáo, không đồng nghĩa công trình đã hoàn thành.

Câu hỏi thường gặp về dự án đường Hồ Chí Minh

1. Đường Hồ Chí Minh dài bao nhiêu km?

Tuyến đường có tổng chiều dài 3.183 km, từ Pác Bó, Cao Bằng, đến Đất Mũi, Cà Mau. Trong đó, tuyến chính dài 2.499 km và nhánh phía Tây dài 684 km.

2. Khi nào đường Hồ Chí Minh dự kiến cơ bản nối thông toàn tuyến?

Theo kế hoạch được trình bày, dự án dự kiến cơ bản nối thông vào cuối năm 2026, với quy mô tối thiểu hai làn xe. Đây vẫn là mốc dự kiến, chưa phải kết quả hoàn thành thực tế.

3. Vì sao hai đoạn Rạch Sỏi – Bến Nhất và Gò Quao – Vĩnh Thuận lùi thời gian khai thác?

Hai đoạn này còn những hạng mục thi công cần hoàn thiện, trong đó có xử lý nền đất yếu. Thời gian đưa vào khai thác được thống nhất lùi sang quý I/2027 nhằm tiếp tục triển khai và bảo đảm yêu cầu kỹ thuật.

4. Tổng mức đầu tư nối thông toàn tuyến được nêu là bao nhiêu?

Hồ sơ nêu tổng mức đầu tư nối thông toàn tuyến là 129.075 tỷ đồng. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra yêu cầu rà soát, thống nhất số liệu và làm rõ một số khoản vốn, quyết toán giữa các tài liệu.

5. Khi nào dự kiến hoàn thành quyết toán dự án?

Chính phủ kiến nghị hoàn thành toàn bộ công tác quyết toán chậm nhất vào hết năm 2027 đối với dự án đường Hồ Chí Minh quy mô hai làn xe.

6. Sau khi nối thông, đường Hồ Chí Minh có tiếp tục được nâng cấp không?

Có. Các đoạn tuyến vẫn được xem xét đầu tư theo quy hoạch mạng lưới đường bộ, phù hợp nhu cầu vận tải, khả năng cân đối nguồn vốn và hiệu quả đầu tư. Đoạn Cổ Tiết – Yên Bái là một trong những nội dung được đề nghị rà soát nguồn lực để triển khai.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *